[Cổ đại] Trần Chân - Chương 10
Chương 10: Cứu người lạ mặt
Tiệc mừng thọ của cha tôi
ngày hôm sau diễn ra vô cùng náo nhiệt. Bạn hữu gần xa của cha đều đến chúc thọ,
lễ vật không thiếu thứ chi. Còn cha thì đặc biệt vui vẻ, gặp ai cũng kéo anh
Cát theo, giới thiệu với mọi người. Tôi nghĩ cha tôi mừng thọ là phụ, cái chính
là muốn thông báo với mọi người chàng rể yêu rể quí của cha.
Chiều hôm đó, nhà tôi đón một
vị khách quý mà không ai ngờ tới – “Bát vương gia”
Có lẽ ngài ấy biết Tú Bình
đang ở nhà tôi nên mượn cớ đến thăm hỏi. Nghe danh ngài ấy đã lâu, đến giờ tôi
mới được diện kiến. Bát vương xấp xỉ tuổi anh Phú nhưng dường như có vẻ già hơn
một chút. Nhưng bù lại ngài mắt sáng mày ngài, khuôn mặt hiên ngang khí phách,
nhìn qua cũng đoán được là một người địa vị không tầm thường. Chịu khó nhìn kĩ
hơn, tôi lại thấy ngài ấy có nét hao hao Lý Nhật Trung, có lẽ do có cùng huyết
thống.
Bát vương tuy hào sảng nhưng
ăn nói có chừng mực. Cảm giác ngài mang lại không sổ sàng nhưng lại không quá
xa cách. Năm xưa ngài làm tướng thì đánh bại Chiêm Thành, khi về đến Diễn Châu
lại là một vị quan mẫu mực. Tôi nghĩ chị Bình gả cho ngài, biết đâu lại là chuyện
tốt.
Bát vương đang cùng cả nhà
tôi trò chuyện thì đầy tớ của ngài chạy vào, điệu bộ gấp gáp. Bát vương tâm trạng
đang vui, giọng sang sảng: “Ở đây toàn là người nhà, có việc gì người cứ nói
đi.”
Tên đầy tớ được cho phép liền
trình báo: “Bẩm vương giá, Phụng Càn Vương có việc gấp cần gặp Người, hiện đang
chờ ở phủ.”
Bát vương nhanh chóng từ biệt
mọi người rồi vội vã cùng đầy tớ quay về. Trước khi đi còn ân cần nói với Tú
Bình đôi ba câu, chị ấy nghe xong chỉ hòa nhã gật đầu. Tôi thì không còn tâm
trí để ý đến chuyện gì khác ngoài ba chữ “Phụng Càn Vương” – đó chẳng phải là
Lý Nhật Trung sao? Anh ta trở lại Diễn Châu rồi!
Mọi người đều ở lại nhà trên
tiếp tục nói chuyện với nhau, chỉ có vợ chồng tôi rời khỏi. Cát không vào phòng
mà ngồi lại ghế đá ngoài sân, tôi kêu Nhược Lan pha cho anh ấy ấm trà. Nhược
Lan sau khi xong việc liền đến gần tôi, lo lắng hỏi: “Có chuyện gì đúng không
cô hai? Em thấy cô nãy giờ thần trí cứ để nơi đâu.”
Tôi nhìn Nhược Lan bằng ánh
mắt phức tạp, không biết có nên kể cho chị ấy nghe về chuyện Lý Nhật Trung hay
không. Nhưng tự nghĩ, dù Nhược Lan biết thì mọi chuyện cũng có thay đổi được
chi đâu, thế nên tôi quyết định không nói gì hết. Chuyện giữa tôi và tứ hoàng tử,
thêm một người biết, lại càng thêm rắc rối.
*
* *
* *
Sáng hôm sau Tú Bình rủ tôi
đi chùa cầu phước cho cha tôi. Địa điểm chúng tôi sẽ đến là chùa Bà Bụt nằm bên
tả ngạn sông Lam, cách nhà tôi hai canh giờ đi bằng xe ngựa.
Xe ngựa chạy với tốc độ bình
thường, băng qua những cánh đồng bát ngát. Khi tôi thắc mắc tại sao gần nhà nhiều
chùa mà chị lại chọn một nơi xa như thế thì chị kể cho tôi nghe một câu chuyện.
Mấy năm trước Bát vương gia
đem quân đi đánh Chiêm Thành, trong một lần trọng thương, về đến Bạch Đường thì
có một bà tiên hiện lên báo mộng với ngài rằng: “Quả sơn là nơi địa linh, muôn
đời có thể hóa thân xứ ấy.” Ngài cho đây là điềm lành, liền cho người dựng
chùa. Ban đầu chùa dựng lên đơn giản, chỉ giống như một am nhỏ bằng tre để thờ
phụng, xây độ mười ngày đã xong. Không ngờ ngay sau đó liền thu phục được quân
Chiêm Thành một cách dễ dàng. Sau đó ngài cho người xây dựng lại chùa thật kiên
cố và cho mọi người gần xa đến đây cúng vái đến ngày nay. Ai đến rồi cũng công
nhận nơi này thật sự hiển linh.
Tôi nghe Tú Bình kể xong, vừa
ngưỡng mộ sự anh dũng của Bát vương và sự huyền bí của xuất xứ ngôi chùa, nhưng
không quên trêu chọc Tú Bình: “Thì ra là chị một lòng muốn đến ngôi chùa cho
chính phu quân tương lai của mình xây cất.”
Tú Bình bật cười: “Ha ha.
Tìm hiểu một chút về người ta trước khi gả đi thì đâu có thiệt thòi gì. Chưa kể
chị cũng muốn biết ngôi chùa ấy linh thiêng đến cỡ nào.”
Nghe giọng điệu Tú Bình, tôi
tin chắc chuyện chị ấy gả đi giờ đây chỉ còn là vấn đề của thời gian mà thôi.
Xe đi được nửa đường, chúng
tôi cho dừng lại bên bờ sông để ngựa uống nước. Tôi đem giỏ bánh đá chuẩn bị sẵn
ra, Tú Bình có vẻ không thích: “Chị không ăn nổi nữa đâu. Mấy hôm nay ăn toàn
những loại bánh này.”
Tôi nhún vai: “Vậy chị muốn
ăn gì? Nhưng ở đây đâu có ai buôn bán gì đâu.”
Tú Bình nhìn quanh rồi phát
hiện ra điều gì thú vị, chị ấy kêu lên thích thú: “Táo rừng kìa Chân, mình lại
đó hái một ít lên xe ngồi ăn cho mát đi.”
Tú Bình nói rồi chưa đợi tôi
đồng ý hay không đã kéo lấy tay tôi, lôi về phía có cây táo rừng xanh um. Mặc
dù những trái táo xanh mướt kia nhìn rất hấp dẫn, nhưng để tiến được đến đó phải
băng qua một khoảng đất đầy cỏ lau, cây nào cây nấy cao hơn vai tôi, chưa kể
không biết có rắn rết hay thú hoang gì không nữa. Băng qua được phân nửa khoảng
đất đầy cỏ, tôi thấy như có điều gì không ổn, thêm vào đó Tú Bình lại hỏi tôi:
“Chân, em có nghe mùi gì tanh tanh không, giống như mùi máu vậy.”
Tôi càng nghe càng thấy sợ,
chân nặng trịch không bước nổi nữa: “Em sợ lắm chị ơi, mình đi ra đi.”
Tú Bình nghe tôi nói thì sốt
ruột: “Sợ gì mà sợ. Có chị bảo vệ em rồi, cọp beo gì chị cũng chấp hết. Đi
nhanh rồi mình còn quay ra xe.”
Tôi không tin lời chị ấy, nhất
quyết quay lưng đi, nghĩ rằng nếu tôi đi thì chị cũng sẽ bỏ cuộc và quay về xe
cùng tôi. Nhưng chưa bước được mấy bước đã nghe Tú Bình kêu lên một tiếng. Chắc
chắn chị ấy đang bày mưu để dụ dỗ tôi đây mà. Tôi quay lại, định bụng càu nhàu
chị một trận.
“Chị…”
Thế nhưng lời tôi nói ra liền
mắc nghẹn ở cổ, miệng cứng đờ. Phía sau Tú Bình là một người đàn ông mặt mày nhếch
nhác, quần áo rách rưới, vết thương trên vai còn đang toạc ra, máu chảy ướt hết
cả một vùng cơ thể. Hắn ta cầm một con dao kề vào cổ Tú Bình, đe dọa: “Im lặng,
nếu không ta giết ả.”
Hắn nói xong, Tú Bình ngạc
nhiên thủ thỉ: “Là anh à?”
Tôi không biết “Anh” mà Tú
Bình đề cập là ai, tôi chỉ biết Tú Bình đang gặp nguy hiểm. Gã ấy vừa nghe Tú
Bình lên tiếng, thẩn thờ nhìn lại chị ấy, đôi mày dãn ra một ít rồi từ từ đổ gục
lên vai Tú Bình, con dao rơi xuống đất.
Tôi sợ hãi kêu lên: “Chị ơi,
nhìn hắn thế kia không phải giết người thì cũng cướp của, nếu không thì không bị
người ta đánh đến như vậy. Hay mình trói hắn lại, trình lên quan đi.”
Tú Bình vội vàng cơi chiếc
áo khoác dính đầy máu của hắn trên người chị ra, lót xuống đất rồi đỡ hắn nằm
lên.
“Trước đây chị có gặp qua
anh ta một lần, anh ta còn cứu người nữa, chắc chắn đây không phải là người xấu.”
Tú Bình giải thích vậy nhưng
tôi vẫn thấy gã ấy không đáng tin: “Nếu vậy thì chúng ta đi đi, cứ để mặc hắn ở
lại đây. Sống chết là do ý trời.”
“Suỵt…dường như có rất đông
người đến. Em ra xe ngựa trước đi. Nếu có ai hỏi về anh ta thì em nói không biết
gì hết, còn chị thì đi vệ sinh, biết chưa.”
Tôi nghe lời Tú Bình vội vã
quay về phía xe ngựa đang đợi. Nhược Lan trông thấy tôi chưa kịp hỏi xem tôi đi
đâu thì một tốp binh lính đã đến. Tên cầm đầu số binh lính ấy trông có vẻ dữ tợn,
tiến về phía tôi: “Nhóc con, người có thấy một gã tuổi ngoài hai mươi, vai bị
thương nặng đi ngang qua đây không?”
Tôi phân vân không biết có
nên nói thật cho hắn hay không. Nhưng lại nhớ đến lời dặn dò của Tú Bình, đành
giả vờ: “Tôi mới đi ngang qua đây, dừng xe cho ngựa uống nước, không thấy ai nữa
hết.”
Có vẻ chưa tin tưởng những
gì tôi nói, hắn hỏi tiếp: “Cha mẹ ngươi đâu, sao lại để con nít đi lại một mình
ở nơi vắng vẻ thế này?”
Tôi nghe hắn hỏi mà thấy giận
run người. Không phải vì thái độ hắn xấc xược, mà là vì hắn xem tôi nhìn con
nít, còn gọi tôi là “Nhóc con” nữa chứ.
Tôi không thèm phản ứng gì hết,
mặc cho hắn dò xét. Hắn còn định tiến lại xem xét bên trong xe ngựa của tôi xem
có giấu tội phạm hay không. Nhược Lan và phu xe Tám Hoành có ý ngăn cản. Từ xa,
một tốp binh khác lại tới, tôi trông thấy người dẫn đầu không ai khác ngoài Bát
vương gia.
“Sao rồi?” Bát vương hỏi tên
lính bặm trợn chất vấn tôi nãy giờ.
Hắn thấy Bát vương liền quay
ngoắt thái độ, lom khom cúi người như đứng trước tổ tông nhà hắn: “Bẩm vương
gia, phản tặc thì chưa thấy nhưng con phát hiện con bé này còn nhỏ mà ở đây một
mình, trông rất khả nghi. Có thể nó với tên kia là đồng phạm.”
Bát vương nhìn tôi một lúc,
có vẻ nhận ra tôi nên ngài hỏi: “Ngươi chẳng phải là em họ của Tú Bình sao? Tại
sao lại ở đây một mình?”
Tôi cúi đầu, lễ phép trả lời:
“Bẩm vương gia nhớ không sai, con chính là em họ của chị Tú Bình. Số là hôm nay
chị Bình cùng con định đi lên chùa Bà Bụt để cầu phước cho cha mẹ, ngang qua
đây ngựa khát nước nên dừng lại nghỉ ngơi. Không ngờ chưa được bao lâu thì mấy
vị đại nhân này đến, hạch hỏi đủ điều. Thật sự con không có gặp tên phản tặc
nào hết, con cũng không phải là đồng phạm.”
Tôi trả lời, nét mặt sợ sệt.
Bát vương thì nghe nói chúng tôi đi chùa Bà Bụt nên vẻ mặt cũng dãn ra đôi
chút. Ngài hỏi tiếp: “Vậy ngươi ở đây, còn Tú Bình đâu?”
Tôi nhìn nhìn về phía bụi cỏ,
ấp úng: “Dạ…chị Bình khi nãy có kêu đau bụng nên….”
Tôi không cần nói hết câu
cũng đủ khiến Bát vương đỏ mặt, còn tốp binh lính phía sau thì che miệng tủm tỉm
cười. Bát vương gia nói tiếp: “Có một tên phản tặc chạy trốn đến Diễn Châu này.
Những nơi vắng vẻ như thế này rất nguy hiểm, nếu không có việc gì thì chớ ở
lâu.”
Tôi ngoan ngoãn gật đầu: “Đa
tạ vương gia đã nhắc nhở. Lát sau chị Bình ra đến chúng con sẽ đi ngay.”
Vương gia dường như đang gấp
gáp nên cũng không lưu lại lâu để gặp mặt Tú Bình. Đợi ngài ấy đi một lúc lâu
tôi mới dám kêu Tám Hoành cùng tôi đi đến chỗ Tú Bình. Ba chúng tôi vất vả lắm
mới đưa được tên ấy vào xe ngựa. Tôi thuật lại những gì Bát vương vừa nói cho
Tú Bình nghe. Xong, chị vẫn một mực lắc đầu: “Anh ta không phải phản tặc đâu.
Anh ta là một người tốt. Em khoan hãy nói việc này cho ai biết. Chúng ta tìm một
nơi vắng vẻ để cứu anh ta trước.”
Thế là chúng tôi không đi đến
chùa Bà Bụt nữa mà quay xe về thị trấn. Trên dọc đường đi, nhìn vẻ lo lắng của
Tú Bình mà tôi không khỏi chột dạ. Tên kia quần áo nhếch nhác, máu me đầy người,
chắc hẳn phải làm việc xấu mới bị người ta đánh ra nông nổi này. Liệu hôm nay
Tú Bình cứu y, có ảnh hưởng gì đến chuyện sau này hay không?
Chúng tôi để anh ta ở lại một
ngôi miếu hoang gần ngoại ô. Trước đây ngôi miếu này cũng có người hành hương,
nhưng từ khi bị sét đánh sập từ bốn năm trước, các sư cô trong đó cũng tản ra về
các chùa, bỏ lại một đống hoang tàn. Mọi người nghĩ nơi này không được lòng trời
nên mới sai Thiên Lôi giáng búa nên cũng không ai buồn tu sửa lại. Những ngày
sau đó, Tú Bình âm thầm đem thức ăn, thuốc men đến cho hắn. Đến ngày thứ ba thấy chị về, tôi hỏi: “Hắn ta
sao rồi chị?”
Tú Bình thở dài: “Đã tỉnh,
nhưng chưa đi lại được.”
Tôi lo lắng nói với Tú Bình:
“Hay chị cứ để mặc hắn đi. Dù gì cũng đã giữ lại được mạng cho hắn, xem như là
làm hết khả năng rồi.”
Tôi khuyên hết lời nhưng Tú
Bình vẫn không chịu nghe tôi, hằng ngày vẫn âm thầm chăm sóc anh ta. Thêm vài
hôm nữa, tôi ra đường thì tình cờ thấy cáo thị đã được dán lên. Người trong
hình chính xác là tên mà Tú Bình cứu. Bên dưới còn kèm chú thích:
“Truy nã Nùng Trí Cao – âm
mưu làm phản. Phát lệnh truy nã toàn quốc. Ai phát hiện, giao thủ cấp thưởng một
trăm bạc, bắt sống thưởng hai trăm bạc.”
Tôi hốt hoảng chạy về nhà
tìm Tú Bình: “Chị ơi hắn ta là phản tặc đó. Triều đình phát lệnh truy nã rồi.”
Tú Bình đưa tay lên miệng ra
dấu cho tôi im lặng. Bỗng một giọng nói vang lên sau lưng khiến tôi giật mình:
“Ai là phản tặc?”
Tôi và Tú Bình đồng thời
quay lại, Huỳnh Cát đã đứng đó tự bao giờ…
Nhận xét
Đăng nhận xét